Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Nữ shipper tuyệt vọng vì lạc vào nghĩa trang, bị xem thường ở quán cà phê
Ah Feng (42 tuổi, quốc tịch Trung Quốc) đã có 5 năm làm shipper tại Bắc Kinh. Trước đó, vợ chồng cô từng có một cửa hàng bán đồ chăm sóc sức khỏe tại Vũ Hán. Tuy vậy, công việc kinh doanh thua lỗ khiến họ nợ 100.000 NDT (tương đương hơn 352 triệu đồng). Vì thế, cả hai quyết định chuyển đến thành phố lớn để tìm cách trả nợ.

Nữ shipper tâm sự chuyện nghề vất vả của mình, phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới (Ảnh: VCG).
Năm 2019, cả gia đình Ah Feng chính thức đến Bắc Kinh và phải sống trong căn phòng nhỏ, chật hẹp với tiền thuê 1.000 NDT/tháng (khoảng 3,5 triệu đồng).
Để kiếm tiền, Ah Feng xin vào làm quản lý siêu thị, với mức lương 6.500 NDT. Tuy nhiên, cô nhanh chóng bị từ chối vì công ty không tuyển người trên 38 tuổi. Ah Feng đành thử sức ở vị trí bán hàng cho công ty bất động sản, nhưng thu nhập cũng không đủ đáp ứng đời sống.
Lúc ấy, cô nhận được cuộc gọi tuyển dụng shipper với thu nhập 6.000-10.000 NDT/tháng, không yêu cầu kinh nghiệm, giới hạn tuổi tác. Công việc chỉ đơn thuần là lái xe máy, giao hàng theo ứng dụng dẫn đường. Thấy công việc đơn giản, Ah Feng không ngần ngại đăng ký.

Ngay từ lâu, nhiều shipper nữ đã quên cảm giác được chải chuốt, ăn diện vì công việc quá vất vả (Ảnh: VCG).
Khác với suy nghĩ ban đầu của Ah Feng vì phương tiện di chuyển khá nặng. Cô cũng không thể di chuyển nhanh trên đường như các nam shipper. Khi Ah Feng mới hoàn thành 10 đơn hàng, nam giới đã giao xong 15 đơn. Để đuổi kịp người khác, cô đành hi sinh bữa trưa và buổi tối. Vì thế, Ah Feng thường bị mất nước và kiệt sức.
Trong một lần đi theo chỉ dẫn của bản đồ điện tử, Ah Feng đã vô tình đi lạc vào nghĩa trang khiến cho cô toát hết mồ hôi lạnh. Lúc ấy, cô gái phải gọi điện cầu cứu đồng nghiệp nam trong tâm thế vô cùng lo sợ. Đối với cô, những lần đi làm đêm là nỗi ám ảnh.
Ah Feng nhớ rõ mình đã phải xin nghỉ đột xuất bao nhiêu lần vì ra máu quá nhiều trong chu kỳ kinh nguyệt. Để sinh lý không ảnh hưởng đến công việc, Ah Feng luôn mặc quần tối màu và không bao giờ được mặc những chiếc váy mà cô yêu thích.
“Rất khó để tìm nhà vệ sinh trên đường”, cô nói.

Một nữ shipper vừa đi làm, vừa quán xuyến công việc nhà cửa, vừa chăm lo cho con gái (Ảnh: VCG).
Zhang Ling, một nữ shipper ở Thượng Hải, cho hay công việc này đã khiến cho cô quên đi cảm giác được trang điểm và mặc những bộ váy đẹp. Zhang thường tranh thủ đi làm lúc 7h mỗi ngày để lấy được các đơn hàng tồn động từ hôm trước, tăng thu nhập bản thân.
Cô cũng không uống bất cứ thứ gì trừ khi thật sự cần thiết và chỉ đi vệ sinh một lần trong ngày vào lúc 14h. Bởi như vậy thì mới kịp tiến độ giao hàng.
Nữ shipper cho hay sau khi nhận những đơn nặng hơn 20 kg, cô đều thấy đau nhức khắp người. Có lần, cô còn phải bó bột ở vai và lưng.
Theo Ah Feng, những người xung quanh thường dùng ánh mắt xem thường dành cho cô và cho rằng công việc cô đang làm không đáng được tôn trọng.
Cô nhớ rõ lần mình mặc bộ đồng phục shipper để đi uống cà phê. Nhân viên tại đó đã giới thiệu cho cô món rẻ nhất thay vì món bình thường như những thực khách khác. Cô nói rằng mình cũng từng bị bảo vệ trung tâm mua sắm và khu dân cư cao cấp đuổi ra ngoài, yêu cầu cởi bỏ đồng phục hoặc chấp nhận đứng bên ngoài.
Một số người mẹ mang con theo đi làm, cũng bị xã hội chỉ trích rằng đang lợi dụng tình thương của mọi người từ đứa trẻ. Tuy nhiên, họ đa phần là không thể để con ở nhà một mình vì không thể gửi con cho ai.
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Tăng vọt tình trạng kiệt sức nơi công sở, nam giới “chết vì tuyệt vọng”
Nhiều con số biết nói thể hiện trong báo cáo Trí tuệ cảm xúc, Sức khỏe – Cân bằng toàn cầu (State of the heart 2024) được đề cập tại một chương trình đào tạo “Sức khỏe tinh thần” của tổ chức lớn nhất thế giới nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc (Six Seconds) diễn ra ngày 16/7 ở TPHCM.

Bà Huỳnh Huyền Trân cảnh báo về tình trạng sức khỏe tinh thần nơi làm việc (Ảnh: Nhã Đan).
Bà Huỳnh Huyền Trân, Giám đốc đào tạo chương trình cho hay, báo cáo chỉ ra điểm số trí tuệ cảm xúc toàn cầu giảm liên tiếp trong suốt 4 năm qua. Giai đoạn 2019-2023, điểm trung bình của trí tuệ cảm xúc toàn cầu giảm 5,54%.
Giai đoạn này, 65% các ngành nghề ghi nhận gia tăng tình trạng kiệt sức, thể hiện qua sự thay đổi về chỉ số động lực.
Ngoại trừ ngành nông nghiệp và thủy sản có điểm động lực tăng 10,72%, phần lớn các ngành nghề khác đều giảm.
Năng lượng & dầu khí là ngành có mức giảm động lực nghiêm trọng nhất, với mức 13,42%. Tiếp đến là phân khúc các ngành công nghiệp kết hợp vận chuyển, kho bãi, bán buôn và xuất nhập khẩu, mức giảm động lực trên 13,26%.
Các ngành có mức giảm động lực cao kế tiếp gồm dược và công nghệ sinh học; dịch vụ lưu trú, du lịch và quản lý bất động sản; xây dựng và thương mại; công nghệ; quảng cáo, truyền thông, giải trí và thể thao…

Ngành năng lượng và dầu khí có mức độ kiệt sức cao nhất dựa trên điểm động lực giảm nghiêm trọng (Ảnh chụp từ báo cáo).
Báo cáo cũng thể hiện, tại nơi làm việc, chỉ có 23% nhân viên trên toàn thế giới cảm thấy kết nối với công việc, trong khi 60% cho biết họ hoàn toàn… thờ ơ.
Tình trạng mất gắn kết của nhân viên không còn là điều xa lạ và xu hướng cách ly xã hội đã xuất hiện từ nhiều thập niên trước nhưng các con số gia tăng một cách đáng lo ngại chỉ trong giai đoạn từ năm 2019 trở lại đây.
Tại châu Á, điểm số trí tuệ cảm xúc ở mức thấp nhất trên toàn cầu. Châu Á đạt điểm thấp nhất trong kỹ năng “phát huy nội lực cá nhân”. Hơn nữa, tất cả các điểm số kỹ năng đều dưới mức trung bình 100, cho thấy cần phải đầu tư nhiều hơn vào việc giáo dục và thực hành trí tuệ cảm xúc trong khu vực.
Về điểm mạnh, châu Á có điểm số cao nhất trong kỹ năng “áp dụng tư duy hệ quả”, cho thấy sự cẩn trọng và cân nhắc khi đánh giá rủi ro, rất đặc trưng trong các nền văn hóa châu Á.
Nhiều nam giới “chết vì tuyệt vọng”
Đáng báo động là Gen Z đối mặt với cuộc khủng hoảng về sức khỏe tinh thần và cảm xúc nặng nhất, được thúc đẩy bởi sự cô đơn và cách ly xã hội.

Gen Z đối mặt với cuộc khủng hoảng về sức khỏe tinh thần nặng nề (Ảnh: AI).
Tại nơi làm việc, 53,7% nhân sự Gen Z có mức độ hài lòng thấp – báo hiệu nguy cơ bị mất sự gắn kết và kiệt sức. Vì vậy, hiệu suất cao ở Gen Z không bền vững.
Phân tích định hướng rủi ro trong báo cáo thể hiện Gen Z có điểm đánh giá rủi ro cao hơn, cho thấy định hướng thận trọng hơn nhiều so với các thế hệ khác.
Ở mức độ cực đoan, điều này có thể được nhìn nhận là lo âu thái quá hoặc có thể dẫn đến việc ngại trải nghiệm. Điều này có vẻ ngược với trực giác đặc thù sinh học của những người trẻ tuổi là có định hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn.

Gen Z có điểm số sức khỏe và cân bằng thấp nhất trong các thế hệ (Ảnh chụp từ báo cáo).
Điểm số trí tuệ cảm xúc trung bình của cả nam và nữ đều giảm từ năm 2019 đến năm 2021. Nhưng từ năm 2021, điểm trí tuệ cảm xúc của phụ nữ đã tăng nhẹ, trong khi điểm số của nam giới vẫn tiếp tục xu hướng giảm mạnh một cách đáng lo ngại.
Điểm số của nam giới giảm trên tất cả 8 năng lực từ năm 2021 đến năm 2023 trong khi điểm số của nữ giới lại tăng ở 4 trong 8 năng lực này, những năng lực còn lại chỉ giảm nhẹ.

Điểm số trí tuệ cảm xúc của nam giới (đường kẻ màu xanh) liên tục giảm mạnh từ năm 2019 đến năm 2023 (Ảnh chụp từ báo cáo).
Từ năm 2019 đến năm 2023, điểm số của tất cả các yếu tố thành công của nam giới đều giảm dần.
Nghiên cứu chỉ ra nam giới đang gặp khó khăn về mặt xã hội và cảm xúc. Đại dịch đã làm trầm trọng thêm hiện trạng này bởi sự cô đơn và cách ly xã hội.
Khoảng 15% nam giới nói rằng họ không có bạn thân – tăng gấp 5 lần so với năm 1990 (3%). Mặc dù vấn đề cách ly xã hội này ảnh hưởng đến mọi người thuộc mọi giới tính, nhưng nghiên cứu cho thấy nam giới bị tác động tiêu cực hơn.
Cụ thể, báo cáo chỉ ra 3 trong số 4 “cái chết vì tuyệt vọng” – chết do tự tử hoặc dùng ma túy quá liều – xảy ra đối với nam giới.
Nghiên cứu đưa ra cảnh báo về việc nam giới thường không có được sự hỗ trợ xã hội hoặc kỹ năng EQ cần thiết để phát triển.

Các yếu tố thành công của nam giới tiếp tục suy giảm (Ảnh chụp từ báo cáo).
Nhìn chung, có một xu hướng tích cực đối với nữ giới: mối quan hệ tốt hơn, trách nhiệm bình đẳng hơn, việc làm nhiều hơn và hiệu quả công việc cao hơn.
Tuy nhiên, cần chú ý, trong khi ba yếu tố thành công khác tăng lên đối với nữ giới trên toàn cầu thì yếu tố sức khỏe – cân bằng của nữ giới giảm từ năm 2021 đến năm 2022. Điều này cho thấy rằng dù nữ giới đang dẫn đầu sự hồi phục sau dịch bệnh, họ vẫn đang phải chịu một gánh nặng khác có tính thiếu ổn định.
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Tuyệt chiêu “bắt” nhãn ra quả trái vụ, chàng trai thu 2 tỷ đồng mỗi năm
Bỏ nghề xây dựng về làm nông nghiệp
Cuối tháng 6, mặc dù chưa đến mùa nhãn, trên quả đồi hơn 2ha của gia đình anh Đỗ Đồng Tâm (SN 1988, trú xã Ngọc Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa) vẫn nhộn nhịp cảnh thu hoạch nhãn. Anh Tâm là người tiên phong với mô hình trồng nhãn trái vụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao, nổi tiếng khắp vùng.
Anh Tâm chia sẻ, trước khi bước vào lĩnh vực nông nghiệp, anh từng có một công việc ổn định trong nghề xây dựng.

Năm 2014, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, anh Tâm làm việc cho một doanh nghiệp xây dựng tại Thanh Hóa và sau đó cùng chung vốn mở công ty riêng. Dù công việc ổn định và thu nhập khá, anh Tâm vẫn luôn đam mê với nông nghiệp.
“Từ nhỏ mình đã thích trồng trọt, chăn nuôi. Nhận thấy quê hương có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp nhưng người dân chủ yếu làm theo kiểu truyền thống, trồng mía và sắn không mang lại hiệu quả kinh tế cao”, anh Tâm chia sẻ.
Năm 2018, anh quyết định bỏ nghề xây dựng, trở về quê tạo hướng đi mới trong nông nghiệp. Tận dụng hơn 2ha vườn nhãn của gia đình, anh đầu tư hơn 200 triệu đồng để đi khắp các vùng nhãn nổi tiếng nghiên cứu cách trồng nhãn trái vụ.
Giữa năm 2018, anh bắt đầu khởi nghiệp với mô hình trồng nhãn trái vụ. Ngày biết tin anh bỏ xây dựng về quê trồng trọt, gia đình can ngăn.

Vườn nhãn rộng hơn 2ha mang về thu nhập mỗi năm 2 tỷ đồng (Ảnh: Hoàng Dương).
“Bố mẹ không đồng ý khi biết tôi về quê làm nông nghiệp. Ông bà cho rằng từ một người có công việc ổn định, không biết nhiều về nông nghiệp, lại dám về quê trồng nhãn chỉ thất bại. Nhưng vì đam mê, tôi quyết tâm thuyết phục và chứng tỏ cho mọi người thấy”, anh Tâm nói.
Năm 2019, vụ nhãn đầu tiên của anh thành công ngoài mong đợi. Hơn 500 gốc nhãn cho quả sớm hơn khoảng 4 tháng, khiến nhiều người bất ngờ.
Doanh thu tiền tỷ
Nhiều năm qua, vườn nhãn của anh Tâm mang về doanh thu “khủng”, mỗi vụ 1,5-2 tỷ đồng. Thông thường mùa nhãn bắt đầu từ tháng 10, nhưng vì làm trái vụ nên vườn nhãn của anh cho thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 8. Mỗi năm 1 vụ, với 500 gốc nhãn, anh thu khoảng 60-65 tấn/vụ.
Giống nhãn mà anh trồng là nhãn Hương Chi, xuất xứ từ Hưng Yên. Thị trường tiêu thụ chủ yếu là các cửa hàng thực phẩm sạch trong tỉnh Thanh Hóa và Hà Nội. Năm nay thời tiết thuận lợi, anh dự kiến sẽ thu khoảng 65 tấn, với giá bán 35.000-40.000 đồng/kg, trừ chi phí anh thu khoảng 2 tỷ đồng.
“Trồng nhãn trái vụ có lợi thế là giá bán ra cao gấp nhiều lần so với nhãn đúng thời vụ. Ngoài ra, mình không bị cạnh tranh quá nhiều nên lợi nhuận cao. Năm 2022, tôi xuất bán với giá 55.000 đồng/kg, nhưng vẫn không có hàng để bán”, anh Tâm nói.
Bật mí về kỹ thuật “bắt” nhãn ra quả trái vụ, anh Tâm cho biết chủ yếu sử dụng phân bón để ức chế quá trình sinh trưởng của cây, sau đó quan sát quá trình sinh trưởng và thời tiết dài hạn để lựa chọn thời điểm cho cây ra hoa.
Năm 2022, anh Tâm liên kết với 12 hộ trồng nhãn trong vùng thành lập Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp và Giống cây trồng Đồng Tâm. Ngoài việc làm kinh tế giỏi, mô hình trồng nhãn của gia đình anh còn tạo công ăn việc làm cho 6 lao động thường xuyên, chuyển giao công nghệ, cấp cây giống, bao tiêu đầu ra cho nhiều nhà vườn ở địa phương.

Anh Tâm tạo công ăn việc làm cho 6 lao động tại địa phương (Ảnh: Hoàng Dương).
Anh Tâm cho biết sẽ mở rộng mô hình và liên kết với nhiều hộ dân ở các huyện có lợi thế về trồng trọt trên địa bàn Thanh Hóa.
Ông Hoàng Duy Dũng, Chủ tịch UBND xã Ngọc Trung cho biết toàn xã có khoảng 10ha nhãn. Trong đó, mô hình của anh Tâm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Không chỉ vậy, anh còn là người tiên phong trong phát triển mô hình trồng nhãn trái vụ.
“Ngoài làm kinh tế giỏi, mô hình của anh Tâm còn tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương. Việc áp dụng kỹ thuật trồng nhãn trái vụ đã tạo nên một bước đột phá trong trồng trọt trên địa bàn. Địa phương đang xây dựng phương án để đưa sản phẩm của anh Tâm thành sản phẩm OCOP, đồng thời khuyến khích người dân học tập kinh nghiệm, liên kết với anh Tâm trồng nhãn trái vụ”, ông Dũng cho hay.
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Tuyệt chiêu lướt ván trên bùn lầy, săn loài cá “kỳ dị nhất hành tinh”
Những ngày qua, thời tiết tại Thanh Hóa nắng nóng, ven các cánh rừng ngập mặn ở vùng biển huyện Hậu Lộc, hàng chục thợ săn cá còi (hay còn gọi là cá thòi lòi) tranh thủ đi kiếm “lộc trời”.
Cá còi được xem là kỳ dị nhất hành tinh, chúng vừa biết bơi, lặn, thậm chí là chạy, leo cây để kiếm thức ăn. Nơi sinh sống phổ biến của loài cá này thường ở các cánh rừng ngập mặn, trong các hang sâu dưới lớp bùn dày 30-40cm. Khi thủy triều xuống, cá còi ngoi ra ngoài để săn mồi.

Thợ săn cá còi lướt ván, vượt bùn lầy dưới trời nắng nóng (Ảnh: Thanh Tùng).
Anh Vũ Văn Độ – một trong những thợ săn cá còi có thâm niên ở xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc – chia sẻ, đây là thời điểm nhiều cá còi nhất trong năm, vì vậy nhiều người dân trên địa bàn tranh thủ đi săn cá còi kiếm thêm thu nhập.
“Mùa cá còi bắt đầu từ đầu tháng Giêng đến hết tháng 5 Âm lịch. Để săn cá còi, chúng tôi phải đi từ sáng sớm, đến tầm trưa thì ra về”, anh Độ chia sẻ.
Anh Độ cho biết, có nhiều cách săn bắt cá còi, thông thường những phụ nữ sẽ lội bùn lầy bắt cá còi bằng tay không, còn đàn ông, trai tráng dùng ván lướt, di chuyển ven rừng ngập mặn để câu hoặc đánh bẫy kẹp.

Những chiếc kẹp dính đầy cá sau nhiều giờ đặt bẫy (Ảnh: Thanh Tùng).
Vào mùa cá còi, anh Độ thường mang theo ván lướt, giỏ tre và chiếc cần câu, di chuyển qua bãi bùn lầy khoảng 1km để săn cá còi. Khi thủy triều xuống, anh bắt đầu công việc từ 6h và kết thúc vào 11h cùng ngày.
Trung bình mỗi ngày anh câu được 2-3kg, với giá bán 250.000 đồng/kg, anh Độ kiếm nửa triệu đồng mỗi ngày.

Cận cảnh chiếc ván lướt (Ảnh: Thanh Tùng).
“Cá còi mùa này béo và thơm, bán được giá. Có hôm đánh bắt được nhiều, mỗi người thợ kiếm từ 500.000 đồng đến 750.000 đồng. Đây là công việc thời vụ nhưng đem lại thu nhập cao, vì vậy, đến mùa cá còi, chúng tôi thường gác lại công việc để đi săn”, anh Độ nói.
Theo anh Độ, nghề săn cá thòi lòi đối diện với nhiều rủi ro. Do di chuyển dưới lớp bùn lầy, họ dễ bị thủy tinh, các vật sắc nhọn hoặc hàu cứa vào chân. Ngoài dụng cụ đi câu cá, anh Độ trang bị thêm cả tất, buộc kín bàn chân để tránh rủi ro.

Chiến lợi phẩm của anh Độ sau nhiều giờ đi săn ven rừng ngập mặn (Ảnh: Thanh Tùng).
Cùng nhóm với anh Độ, anh Vũ Văn Đoàn (xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc) chuyên dùng bẫy kẹp để đi săn. Mỗi ngày, anh Đoàn thường chuẩn bị khoảng 100 chiếc kẹp vót từ thân tre đi bẫy cá. Bẫy cao khoảng 40cm, phía dưới dùng dây cước thắt nút thòng lọng.
Anh Đoàn cho hay, mỗi ngày anh mang theo giàn bẫy rồi lội khắp bãi bùn tìm hang cá để đặt. Khi cá ngoi lên tìm kiếm thức ăn, bơi qua sẽ vướng vào sợi dây, sập bẫy. Cứ 2-3 giờ đồng hồ, anh Đoàn lại đi thăm bẫy rồi thu hoạch cá.

Thợ săn cá còi dùng ủng, tất bảo vệ đôi chân khỏi bị thủy tinh sắc nhọn cứa vào chân (Ảnh: Thanh Tùng).
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, toàn tỉnh này có hơn 873ha rừng ngập mặn. Trong đó, huyện Hậu Lộc là một trong những địa phương có diện tích rừng ngập mặn lớn với hơn 340ha.
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm