Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Nuôi ong không chỉ lấy mật, U70 kiếm cả trăm triệu mỗi năm
Ông Nguyễn Văn Hậu (72 tuổi) lớn lên từ mảnh đất miền núi nghèo khó, từ nhỏ ông gắn bó với công việc đồng ruộng. Tuy nhiên gần 10 năm trở lại đây, sau khi “nghỉ hưu” công việc đồng ruộng, bắt đầu học tập nuôi ong.

Với gần 10 năm trong nghề, ông Hậu hiểu rõ từng đặc tính của ong (Ảnh: Hán Thương).
Lúc đầu chưa có kinh nghiệm, ông Hậu thử nuôi vài đàn nhưng ong không cho mật, chết hàng loạt. Tiếp tục thử nuôi lại đàn mới, ong lại chết không rõ lý do khiến ông Hậu trắng tay. Mãi đến lần nuôi thứ 4, đàn ong bắt đầu sinh trưởng tốt và cho mật đều trong niềm hạnh phúc của lão nông già. Hiện tại gia đình ông Hậu có khoảng 35-40 đàn ong.
Chia sẻ về kinh nghiệm nuôi ong, ông Hậu cho biết, gia đình tận dụng diện tích vườn xung quanh nhà để đặt thùng nuôi. Tất cả các thùng nuôi ong đều được làm bằng gỗ sung vì nó ít hút ẩm hơn so với nhiều loại gỗ khác; giúp giữ cho môi trường bên trong thùng nuôi ong luôn khô ráo và thoải mái cho ong làm tổ.

Các thùng nuôi ong được sắp xếp dưới tán cây nhằm mục đích che chắn và làm giảm nhiệt độ (Ảnh: Trần Thể).
Nuôi ong chi phí thấp nhưng đòi hỏi phải có kinh nghiệm. Trong quá trình chăm sóc, phải nắm rõ đặc tính của ong; phải thường xuyên kiểm tra, vệ sinh từng thùng theo dõi tình trạng ong, đặc biệt là phải chú ý đến ong chúa, tránh tình trạng chia đàn tự nhiên.
“Vào dịp mùa Xuân đến là thời điểm ong chia đàn nhiều. Vì thế khoảng 10 ngày phải kiểm tra một lần, nếu chậm quá ong sẽ chia đàn. Khi ong đã có nhu cầu chia đàn thì từ lúc xây tổ mới đến lúc hoàn thành chỉ trong phạm vi 12-15 ngày. Trong khoảng thời gian này tôi sẽ tách đàn để bán ong giống”, ông Hậu chia sẻ kinh nghiệm.

Ông Hậu cho biết, những con ong thợ khỏe mạnh hứa hẹn cho một mùa mật bội thu (Ảnh: Hán Thương).
Theo ông, đàn ong phát triển mạnh nhất vào mùa xuân; còn mùa hạ, mùa thu và mùa đông ít hoa nên kém phát triển, do đó đòi hỏi người nuôi ong phải giữ đủ lượng mật hoặc phải cung cấp phấn hoa cho chúng, nếu không đàn ong sẽ bay đi nơi khác.
Khi được hỏi về thời điểm thích hợp để thu hoạch mật ong, ông Hậu cho hay, gia đình tập trung khai thác mật từ tháng 2 đến tháng 6. Lúc này cây cối nhiều hoa nên ong cho mật nhiều, ngon và chất lượng nhất trong năm.

Mỗi chai mật ong nguyên chất được bán với giá 450.000 đồng (Ảnh: Trần Thể).
“Trong khoảng thời gian từ 8 đến 10 ngày sẽ quay mật một lần. Tuy nhiên vào mùa hoa nhãn, hoa vải thì chỉ cần 6-7 ngày. Qua tháng 6, tôi nghỉ khai thác để tiếp tục tách đàn và nhân giống bán”, ông Hậu cho biết thêm.
Với 35-40 đàn ong, mỗi năm, gia đình ông thu về khoảng 150 chai mật; giá bán tại vườn 450.000 đồng/chai. Bên cạnh đó, mỗi năm gia đình ông còn bán thêm từ 25-30 đàn ong giống với giá 1.200.000 đồng/thùng (một đàn gồm 4 cầu ong). Thu nhập từ bán mật và ong giống của gia đình mỗi năm lên đến 100 triệu đồng.
Được biết, hiện nay ông Hậu là một trong những hộ cung cấp ong giống lớn uy tín trên địa bàn xã Nghi Kiều (huyện Nghi Lộc). Không chỉ vậy, ông còn tận tình đến các gia đình khác nuôi ong để chia sẻ kinh nghiệm làm cầu ong, nhân giống giúp họ.
Hán Thương – Trần Thể
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Nuôi vịt “hoàng gia” thích nghe nhạc sàn, nông dân Bắc Giang kiếm tiền tỷ
Đàn vịt “lạ”, cả đời không bơi
Năm 2020, dịch Covid-19 ập đến, giá vịt lên xuống thất thường khiến nhiều trại nuôi vịt lớn ở Bắc Giang buộc phải giảm đàn, những hộ chăn nuôi nhỏ rơi vào tình trạng thua lỗ. Trang trại của anh Lê Xuân Nam (47 tuổi, ở thị xã Việt Yên, Bắc Giang) cũng chung cảnh ngộ.
“Thời điểm dịch căng thẳng, việc chăn nuôi cũng buồn theo. Có bao nhiêu vốn liếng đã đầu tư hết vào đàn vịt, tôi không đành, cũng không thể buông bỏ. Vốn mê chăn nuôi, tôi cố gắng gượng, tìm mọi cách duy trì trại vịt”, anh Nam kể.

Anh Nam bật nhạc cho đàn vịt nghe cả ngày lẫn đêm (Ảnh: Tùng Đinh).
Trong một lần cho vịt ăn, anh Nam tình cờ phát hiện đàn vịt phản ứng với tiếng nhạc. Liên tưởng lúc nuôi lợn, gà cho nghe nhạc nhiều năm trước, anh bỗng chột dạ, biết đâu áp dụng cách này vào nuôi vịt sẽ hiệu quả. Từ đó, người đàn ông ở Bắc Giang quyết định thay đổi nhịp sinh học của đàn vịt.
Nghĩ là làm, anh Nam bắt đầu áp dụng phương pháp nuôi vịt theo cách lạ đời đó. Anh đầu tư, lắp thêm hệ thống loa trong khu vực chuồng nuôi, hằng ngày mở nhạc dân ca cho đàn vịt nghe.
“Trước đây nuôi lợn, gà tôi cũng áp dụng phương pháp này và thành công, cứ nghe tiếng nhạc là đàn lợn đỡ kêu, ngoan ngoãn hẳn. Khi nảy ra ý tưởng với đàn vịt, tôi mạnh dạn vay tiền ngân hàng, người thân để đầu tư”, anh Nam chia sẻ.
Ban đầu, những người chăn nuôi trong vùng nghi hoặc, thậm chí cười nhạo cách làm của anh Nam. Dù vậy anh rất tự tin vì đã nghiên cứu kỹ phương pháp chăn nuôi này trước khi áp dụng. Anh kiên trì bật nhạc mỗi ngày để tạo thói quen cho đàn vịt và kết quả đến vượt ngoài mong đợi sau vài tháng.

Trang trại của anh Nam luôn duy trì trên dưới 30.000 con (Ảnh: Tùng Đinh).
Việc cho đàn vịt nghe nhạc tạo nên một hiệu quả đột phá, giúp anh nông dân Bắc Giang tiết kiệm được nhiều chi phí, đỡ sức lao động.
“Hiện tại, đàn vịt ngoài trang trại nghe nhạc gần như suốt ngày đêm, từ nhạc sàn, dân ca đến cải lương. Điều lạ là cứ mỗi khi tắt nhạc, cả đàn lại xáo xác, chạy nhiều.
Cùng một đàn, con vịt nào bị tách, đưa sang chuồng khác không nghe nhạc thì biểu hiện phát sốt như trẻ con”, anh Nam nói.
Một bí quyết nữa anh Nam tiết lộ là thức ăn cho vịt được chạy qua hệ thống máy móc kiểm tra khối lượng, chất lượng. Hằng ngày anh Nam gần như chỉ việc tăng giảm âm lượng nhạc, hoặc đổi bài. Chỉ với chiếc điện thoại và loa bluetooth, gần như cả ngày anh không cần vào chuồng vịt.
“Khác biệt ở trại của tôi, đàn vịt được nuôi trên cạn hoàn toàn, không xuống nước bao giờ. Tôi hay nói đùa với khách hàng, vịt nhà tôi cứ xuống nước là chết đuối vì không biết bơi”, anh Nam cười.
Mỗi năm bán 500 tấn vịt, thu 3 tỷ đồng
Hiện tại, với trang trại rộng hơn 3.000 m2, anh Nam nuôi hơn 30.000 con vịt. Mỗi năm, trang trại cho thu hoạch 3-5 lứa, cung cấp khoảng 500-600 tấn vịt ra thị trường. Với giá dao động 40.000-50.000 đồng/kg, doanh thu một năm của trang trại hiện khoảng 3 tỷ đồng.
Vịt từ trại của anh Nam không những được tiêu thụ mạnh trên địa bàn tỉnh Bắc Giang mà thương lái ở các tỉnh lân cận cũng tìm đến mua.
“Mùa nóng tôi bán cho khách ở Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh… đến mùa rét thì thương lái ở Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng cũng tìm đến”, anh nói.
Chia sẻ thêm về mô hình nuôi vịt, anh Nam cho biết, để thành công, ngoài kinh nghiệm, người chăn nuôi phải có kỹ thuật tốt, tuân thủ khắt khe các quy tắc phòng bệnh.

Nhờ cách nuôi vịt “không giống ai”, doanh thu của trang trại trên dưới 3 tỷ đồng mỗi năm (Ảnh: Tùng Đinh).
“Thức ăn chủ yếu của vịt là cám chất lượng cao. Khi còn nhỏ, chúng tôi tiêm phòng vacxin 6 trong 1 cho vịt, phòng chống các bệnh thường gặp như thụt mỏ, tả, cúm, bại huyết… Ngoài ra, bên dưới chuồng tôi lắp đặt lưới mềm, 4 góc chuồng đều có quạt thông gió, phun sương, đảm bảo nhiệt độ ổn định 24-25 độ C”, chủ trang trại chia sẻ.
Xưa nuôi lợn, gà, nay nuôi vịt, anh Nam luôn nổi danh, nói tên “Nam chợ cơm”, khắp huyện Việt Yên đều biết. Gia đình anh hiện là một trong những hộ thành công với mô hình nuôi vịt “độc lạ” đã áp dụng. Trang trại luôn ổn định công việc cho gần 10 lao động địa phương.
Chị Dương Thị Tươi (vợ anh Nam) chia sẻ, quá trình làm ăn đã từng thất bại nhiều lần mới có cơ ngơi như hiện tại. Thời gian tới, anh chị dự định vay thêm vốn để mở rộng trang trại, tận dụng nguồn chất thải từ việc nuôi vịt để tối ưu hóa đầu tư.
“Mở rộng quy mô trại, vấn đề khó giải quyết nhất là việc xử lý chất thải chăn nuôi. Nếu quản lý không tốt, việc phát triển số lượng vật nuôi sẽ gây ảnh hưởng môi trường xung quanh. Do vậy, gia đình tôi dự định vay mượn thêm vốn để đầu tư hệ thống xử lý chất thải, có vậy mới mong phát triển bền vững”, anh Nam chia sẻ.
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Cô gái dân tộc bán hết đồ đạc để “khởi nghiệp”, nuôi hy vọng thoát nghèo

Ngôi nhà nhỏ vách đất nằm khuất giữa núi rừng thuộc xã Nàn Ma (huyện Xín Mần, Hà Giang) là nơi sinh sống của gia đình người phụ nữ 30 tuổi dân tộc Nùng – Cháng Thị Ngọc.
Những trải nghiệm mà Cháng Thị Ngọc có được đặc biệt hơn nhiều so với thanh niên cùng thế hệ trong xã, Ngọc vui vẻ kể lại quá trình lập nghiệp của mình với nhiều khó khăn nhưng cùng với đó là những hoài bão mong muốn thoát nghèo trên chính quê hương.

Hai vợ chồng chị Ngọc từng có thời gian rời xa quê hương về dưới xuôi làm ăn để hy vọng có một cuộc sống ổn định, dài lâu. Thế nhưng, dịch Covid-19 bùng phát khiến ý định lập nghiệp nơi xa phải dừng lại, hai vợ chồng khăn gói trở lại cuộc sống xoay quanh việc trồng trọt và chăn nuôi ở quê nhà.

Vốn là người có chút kiến thức về chăn nuôi, chị Ngọc đăng ký tham gia dự án “Tăng cường trao quyền phát triển sinh kế cho thanh niên”, đây là dự án của một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận kết hợp cùng huyện Xín Mần triển khai, phổ biến xuống các xã.

Biết được khí hậu và địa hình vùng núi phù hợp với việc nuôi dê, chị Ngọc quyết định đăng ký nuôi dê nái sinh sản. Thời gian đầu, dự án đã hỗ trợ gia đình chị một con dê giống với giá hơn 2 triệu đồng, tuy nhiên, sau khi tham khảo một số mô hình nuôi dê gần nhà, chị Ngọc bàn với chồng bán hết đồ đạc trong nhà để đầu tư mua thêm 2 con dê nữa để nhân giống.

Tham gia dự án từ tháng 8/2022, tới nay đàn dê của chị Ngọc chuẩn bị sang lứa thứ 3, nâng tổng số dê lên 9 con. Được biết, giá thành mỗi con dê chị Ngọc bán khoảng 3 triệu đồng.
“Dê này mình thả lên đồi, lên núi thì không phải mất thức ăn, thời gian đầu nuôi buộc vào một chỗ cho quen rồi sau sẽ tự biết tìm đường về. Hơn nữa, nuôi dê ít bệnh tật, ít tốn kém tiền chữa bệnh”, chị Ngọc chia sẻ thêm.


Chị Ngọc cũng cho biết, ngoài việc nuôi dê, gia đình chị còn nuôi thêm trâu, lợn nái, vẫn đi trồng ngô, trồng lúa để lấy lương thực, xoay sở cho gia đình mà không phải bán bớt đồ đạc trong nhà lấy vốn làm ăn nữa.

Tương tự, chị Cháng Thị Chẳm (dân tộc Nùng, xã Tả Nhìu, huyện Xín Mần) vượt khó cố gắng thoát nghèo bằng việc tạo dựng thương hiệu giò lụa lợn đen trên vùng cao.
Chị Chẳm cho biết, trước kia chị chưa từng biết tới việc làm giò, kể từ khi tham gia dự án phát triển sinh kế cho thanh niên trong huyện, chị đã được tập huấn, hỗ trợ cách chế biến, hỗ trợ máy móc, thiết bị làm ra thành phẩm giò.

Thời gian đầu, chị Chẳm cảm thấy khá khó khăn trong công việc làm giò, những thất bại cứ đến liên tiếp. Đặt quyết tâm cao, làm đi làm lại nhiều lần, cuối cùng những sản phẩm giò lụa lợn đen đầu tiên đã được tạo ra bởi đôi bàn tay của người phụ nữ dân tộc Nùng.
Làm nhiều, làm đều, làm quen, bán được cho người dân trong bản và xung quanh huyện. Cứ thế chị Chẳm dần đưa giò lụa lợn đen trở thành nguồn thu nhập cho bản thân chị và gia đình.
“Mỗi tuần mình làm một mẻ, mỗi mẻ mình làm 5kg, giá thành 200 nghìn đồng/kg, bán trực tiếp tại nhà”, chị Chẳm cho biết.


Ngoài việc làm giò, chị Chẳm còn tham gia mô hình trồng rau xanh, từng bước áp dụng những gì được học, đưa mảnh đất bỏ hoang, nhiều cỏ rác của gia đình thành một vườn rau tươi tốt. Mô hình thử nghiệm đã mang tới sự thay đổi về cảnh quan và cải thiện đời sống cho gia đình.

Đi cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, với chiếc điện thoại thông minh trong tay, chị Chẳm tham gia một số nền tảng mạng xã hội, đưa những sản phẩm của mình tới với đông đảo mọi người.
“Mình cũng mới tham gia mạng xã hội một thời gian, gần đây đã đưa video các sản phẩm của nhà như giò, rau sạch lên trên đó với hy vọng mọi người sẽ biết tới nhiều hơn”, Chị Chẳm nở nụ cười hạnh phúc chia sẻ với phóng viên.
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
Cử nhân rời phố về quê nuôi con “ngủ ngày, cày đêm” thu trăm triệu đồng/năm
Cử nhân rời phố về quê
Tốt nghiệp ngành tài chính ngân hàng, có công việc ổn định với mức thu nhập khá, nhưng không thể khiến anh Huỳnh Viên Mãn (31 tuổi, trú thôn Hà Dục Đông, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, Quảng Nam) gắn bó lâu dài.
Tự nhận mình là “chân chạy”, không thích gò bó trong khuôn khổ nhất định, anh Mãn quyết định tìm hướng đi mới.
Cử nhân rời phố về quê nuôi con “ngủ ngày, cày đêm” thu trăm triệu đồng/năm (Video: Ngô Linh).
Năm 2016, thông qua internet, anh biết đến mô hình nuôi cầy hương mang lại hiệu quả kinh tế cao và nuôi thử vài cặp. Do chưa có kinh nghiệm nên việc chăn nuôi không mấy tiến triển, anh quyết định rã đàn.
Khát khao tìm tòi, học hỏi, anh Mãn lặn lội vào tận các cơ sở nuôi chồn hương thành công ở các tỉnh phía Nam để tham quan, tìm kiếm nơi cung cấp giống chất lượng.
Năm 2018, được các cơ quan chức năng cấp phép, anh Mãn tự tin khởi nghiệp lại với mô hình bài bản hơn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
“Kiến thức có rồi nhưng đưa vào thực hành lại là vấn đề khác. Khí hậu, nguồn nước chính là trở ngại đầu tiên, rồi đến kỹ thuật chăn nuôi, cách phối giống đạt hiệu quả cao… Tôi cũng “ba phen bốn bận” trầy trật mới có được như ngày hôm nay”, anh Mãn tâm sự.

Từ 2022 đến nay, trang trại của anh Mãn thu lãi 500 triệu đồng/năm (Ảnh: Ngô Linh).
Từ một trại nuôi ban đầu, hiện nay anh Mãn cùng một người bạn hợp tác mở rộng thêm 6 khu chuồng trại, vừa cung cấp con giống và nuôi bán thịt thương phẩm.
Quả ngọt sau thời gian dài kiên trì
Theo anh Mãn, để nuôi chồn hương hiệu quả, người nuôi cần tuân thủ các quy tắc nghiêm ngặt về kỹ thuật nuôi, đầu tư chuồng trại, nguồn thức ăn cho chồn.
Về kỹ thuật nuôi, cần lưu ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn uống sạch sẽ, khử trùng hàng tuần, rải vôi, phòng ngừa bệnh tật là quan trọng nhất. Con cái mang bầu khoảng 2 tháng, sau khi con non sinh ra sẽ cho ở với mẹ 60 ngày, rồi tách ra nuôi. Giai đoạn này cần tiêm vaccine phòng bệnh đầy đủ.
Chồn mẹ 1 năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa 3-5 con, mùa sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7. Chồn sinh sản cần được bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, nhất là canxi. Một con cái vòng đời sinh sản trung bình kéo dài 7-10 năm.

Chuồng cao hơn mặt đất 1-1,5m, thoáng, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, vệ sinh sạch sẽ (Ảnh: Ngô Linh).
Đối với chồn cái, 10-12 tháng sẽ cho giao phối, trong giai đoạn này quan sát để lựa chọn những con đẻ tốt nhằm giữ lại làm giống (thường thử nghiệm 2-3 lần đẻ để xem tỷ lệ con non ra đời). Đối với chồn đực, 15-20 tháng sẽ cho giao phối.
Về đầu tư chuồng trại theo mô hình hiện đại, khép kín. Chuồng nuôi được thiết kế dạng lồng sắt cao khoảng 70cm, rộng từ 1m2 hoặc hơn tùy vào các giai đoạn phát triển, sinh sản. Bố trí trên giá đỡ cách nền 1-1,5m để thông thoáng, tiện vệ sinh chuồng trại.
Trong chuồng lắp đặt camera, máy đo nhiệt độ, nước tự động; chuồng được phân chia thành các khu riêng biệt: khu nuôi cá thể, nuôi các cặp chồn vợ chồng, nuôi chồn sơ sinh…
Theo anh Mãn, khó nhất trong nuôi chồn hương là khi bị ốm không có thuốc đặc trị. Vì vậy, quan trọng nhất trong nuôi chồn hệ thống chuồng trại phải đảm bảo thoáng, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, luôn sạch sẽ.
“Người chăm sóc chồn phải am hiểu đặc tính của loài, biết được cá tính của từng con để có cách chăm sóc phù hợp. Ví dụ như chồn con, chồn sinh sản hay chồn biếng ăn… đều có cách chăm nom riêng, nên phải quan sát kỹ”, anh Mãn chia sẻ.

Thức ăn của chồn là chuối, cá đồng; hệ thống nước uống được bố trí tự động, khử trùng, vệ sinh thường xuyên (Ảnh: Ngô Linh).
Thức ăn của chồn hương là chuối, cháo cá, cá trê. Chồn hương chỉ ăn một lần vào buổi chiều, ngày ngủ, tùy vào từng giai đoạn của chồn mà có sự phân chia lượng thức ăn phù hợp.
Anh Mãn cho hay, cao điểm trang trại của anh có tổng đàn 300-350 con. Hiện nay, chồn thương phẩm có giá 1,4-1,5 triệu đồng/kg (2,2-3,5kg/con loại 1), chồn nuôi lấy thịt 12-14 tháng có thể xuất bán. Chồn giống có giá 8-11 triệu đồng/cặp, tùy trọng lượng.
Từ năm 2022 đến nay, doanh thu mỗi năm từ trang trại nuôi chồn hương của anh Huỳnh Viên Mãn khoảng 700 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, lãi khoảng 500 triệu đồng.
“Nuôi chồn hương đòi hỏi kỹ thuật cao, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, quy tắc chăn nuôi mới đạt hiệu quả tốt. Tôi đã lập một trang mạng xã hội “Chồn hương Đại Lộc” để trao đổi kinh nghiệm với mọi người gần xa…”, anh Mãn cho hay.
Tin tức An sinh xã hội, thông tin đào tạo việc làm
- « Previous Page
- 1
- …
- 11
- 12
- 13
- 14
- 15
- …
- 17
- Next Page »